Công án Thiền trong Bích Nham Lục kể việc Thế Tôn đăng tòa, Văn-thù bạch chùy. Lời bình và tụng của cổ đức hé lộ ý chỉ Thiền vượt ngoài ngôn ngữ.
Công án Thiền
Một hôm Thế Tôn đăng tòa thuyết pháp. Khi ấy Bồ-tát Văn-thù bước ra bạch chùy và nói: “Hãy quán kỹ pháp của đấng Pháp Vương. Pháp của đấng Pháp Vương chính là như thế.”
Giải thích công án
Từ trước kia, khi Thế Tôn đưa cành hoa lên tại hội Linh Sơn, ý chỉ Thiền đã sớm bộc lộ. Từ buổi đầu Ngài chuyển pháp luân ở vườn Lộc Uyển cho đến khi nhập Niết-bàn bên sông Bạt-đề, thật ra chưa từng cần dùng đến bảo kiếm Kim Cang Vương. Trong đại chúng lúc ấy, nếu có người mang hơi hám của Thiền tăng mà nhận ra ngay, thì đâu cần đến sau này câu chuyện đưa hoa khiến thiên hạ bàn luận rối bời.
Trong công án này, Thế Tôn chỉ lặng lẽ đăng tòa. Văn-thù liền bạch chùy tuyên bố: “Quán kỹ pháp của đấng Pháp Vương, pháp của đấng Pháp Vương chính là như thế.” Ngay trong khoảnh khắc im lặng ấy, Văn-thù như đẩy nhẹ một cái, rồi Thế Tôn liền xuống tòa. Trong đó đã hàm chứa đầy đủ tin tức.
Những sự việc như Thích-ca đóng cửa thất, Duy-ma-cật ngậm miệng, đều cùng một ý chỉ như thế. Cũng giống câu chuyện vua Túc Tông hỏi Quốc sư Huệ Trung về tháp Vô Phùng, hay câu hỏi của ngoại đạo đối với Phật: “Không hỏi có lời, cũng không hỏi không lời.” Hành trạng của người hướng thượng chưa từng rơi vào hang quỷ để tìm kế sinh nhai.
Có người cho rằng ý chỉ nằm ở chỗ im lặng. Có người lại nói nằm ở chỗ lặng yên một lúc. Có người cho rằng dùng lời để làm rõ điều không lời, hoặc dùng không lời để làm rõ điều có lời. Nhưng tất cả cách hiểu ấy đều chưa chạm đến cốt tủy. Thiền sư Vĩnh Gia từng nói: “Khi im lặng thì nói, khi nói thì im lặng.” Nếu chỉ hiểu theo lời ấy mà cho là đủ, thì trải qua ba đời sáu mươi kiếp vẫn chưa từng mộng thấy.
Nếu ngay nơi đó mà trực tiếp thừa đương, thì sẽ thấy không có phàm cũng không có Thánh, pháp vốn bình đẳng, không cao không thấp. Người ấy mỗi ngày như cùng chư Phật ba đời nắm tay mà đi.
Bài tụng cổ
Tuyết Đậu tụng rằng:
Liệt Thánh tùng lâm tác giả tri,
Pháp Vương pháp lệnh bất như tư.
Hội trung nhược hữu Tiên-đà khách,
Hà tất Văn-thù hạ nhất chùy.
Dịch nghĩa:
Trong rừng Thánh giả ai là bậc tác gia mới biết,
Pháp lệnh của Pháp Vương vốn chẳng như thế.
Nếu trong hội có người hiểu Tiên-đà-bà,
Đâu cần Văn-thù phải hạ một chùy.
Giải tụng
Câu “liệt Thánh tùng lâm tác giả tri” nói rằng trong hội Linh Sơn khi ấy có tám muôn đại chúng, đều là hàng Thánh giả. Văn-thù, Phổ Hiền cho đến Di-lặc đều cùng dự hội, chủ và bạn đều đầy đủ. Nhưng muốn nhận ra chỗ rơi của công án này thì phải là bậc khéo trong khéo, kỳ trong kỳ mới có thể thấy được.
Ý của Tuyết Đậu là: trong rừng Thánh giả ấy không có một người thật sự “tri hữu”. Chỉ khi có bậc tác gia thì mới thấy được rằng pháp của Pháp Vương vốn chẳng phải như lời tuyên bố kia.
Vì sao lại nói như vậy? Bởi khi Văn-thù bạch chùy: “Quán kỹ pháp của đấng Pháp Vương, pháp của đấng Pháp Vương như thế”, Tuyết Đậu liền nói: “Pháp Vương pháp lệnh chẳng như đây.” Nếu trong hội khi ấy có người mắt sáng nơi đảnh môn, trong tay có linh phù, ngay lúc Thế Tôn vừa đăng tòa đã nhận ra, thì đâu cần Văn-thù phải bạch chùy.
Kinh Niết-bàn nói về chữ “Tiên-đà-bà”. Một tên mà có bốn nghĩa: muối, nước, đồ dùng và ngựa. Một vị quan thông minh khi nghe vua gọi “tiên-đà-bà” liền hiểu ý. Nếu vua muốn rửa tay thì dâng nước, khi ăn thì dâng muối, ăn xong thì dâng đồ dùng uống nước, còn khi muốn ra đi thì dâng ngựa. Mọi việc đều ứng hợp đúng lúc.
Người hiểu được ý chỉ của Thiền cũng phải linh hoạt như thế. Vì vậy khi có Tăng hỏi Hương Nham: “Thế nào là vua đòi tiên-đà-bà?”, Hương Nham bảo: “Qua bên này đi.” Khi Tăng bước qua, ông liền nói: “Ngu chết người.”
Tăng lại hỏi Triệu Châu: “Thế nào là vua đòi tiên-đà-bà?” Triệu Châu liền bước xuống giường thiền, cúi đầu khoanh tay.
Nếu trong hội Linh Sơn khi ấy có người như thế, thì ngay trước khi Thế Tôn đăng tòa đã thấu rõ. Nhưng Thế Tôn đã đăng tòa rồi lại xuống tòa, vốn đã không tiện, lại thêm Văn-thù bạch chùy, càng khiến đường lối đề xướng của Thế Tôn như bị che mờ.
Vậy rốt cuộc chỗ làm mờ ấy ở đâu? Người học cần tự mình xem xét.
Phật học ứng dụng
Công án này nhắc rằng chân lý không nằm trong lời tuyên bố hay nghi thức. Ngay cả khi Phật đăng tòa thuyết pháp, điều quan trọng vẫn không phải là lời nói mà là khả năng trực tiếp nhận ra pháp đang hiện tiền.
Trong đời sống tu tập, con người thường chờ một lời giải thích, một giáo lý rõ ràng. Nhưng Thiền lại nhắc rằng điều cần thấy không nằm trong lời nói, mà trong sự tỉnh giác ngay lúc này. Người lanh lợi giống như người hiểu “tiên-đà-bà”, chỉ một tín hiệu nhỏ cũng đủ nhận ra toàn bộ ý nghĩa.
Trung Đạo
Nếu đã thấy được pháp đang hiện tiền, thì trước khi Văn-thù hạ chùy, mọi việc đã rõ ràng.
Bích Nham Lục – 100 công án Thiền
Vô Môn Quan – 48 công án Thiền
Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền
Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm
Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn
Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học
Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh
