Zalo

Bích Nham Lục Tắc 82 – Đại Long và Pháp thân kiên cố

> Học thuật > Bích Nham Lục > Bích Nham Lục Tắc 82 – Đại Long và Pháp thân kiên cố

Công án Bích Nham Lục tắc 82: Đại Long trả lời câu hỏi về Pháp thân kiên cố bằng hình ảnh hoa núi và nước khe, mở ra cách thấy vượt ngoài ngôn ngữ.


Công án Thiền

Một vị Tăng hỏi thiền sư Đại Long:

“Sắc thân rồi sẽ bại hoại, vậy thế nào là Pháp thân kiên cố?”

Đại Long đáp:

“Hoa núi nở dường gấm, nước khe trong tợ chàm.”


Giải thích công án

Nếu đem công án này mà tìm nghĩa ngay trên ngôn ngữ thì chẳng khác nào cầm gậy đánh vào mặt trăng, hoàn toàn không dính dáng gì đến bản ý.

Cổ nhân từng nói rất rõ: muốn được thân thiết thì chớ đem hỏi đến hỏi. Vì sao? Vì hỏi đã nằm trong đáp, đáp cũng nằm ngay nơi hỏi. Chỗ ấy vốn không thể tách rời.

Vị Tăng ở đây mang theo một gánh hồ đồ mà hỏi, nên câu hỏi tuy nhiều chữ nhưng thực ra rất lỏng lẻo. Nếu người đối đáp không phải là bậc tông sư như Đại Long thì khó lòng ứng cơ trọn vẹn.

Vị Tăng hỏi về sắc thân bại hoại và Pháp thân kiên cố. Đại Long liền đáp: “Hoa núi nở dường gấm, nước khe trong tợ chàm.” Câu đáp ấy hợp với câu hỏi như hai mảnh khớp nhau, không sai chạy một mảy may.

Chỗ xuất cơ của Đại Long giống như thấy thỏ liền thả chim ưng, thấy lỗ liền đặt chốt. Cơ phong nhanh gọn, không cần suy tính.

Trong toàn bộ ba thừa mười hai phần giáo, liệu có khi nào xuất hiện kiểu đáp như thế chăng? Thật là kỳ đặc. Tuy lời nói dường như giản dị, nhưng lại khiến người nghe không biết bám vào đâu.

Vì thế cổ nhân mới nói:

“Một mảnh mây trắng che miệng hang,
chim về quên tổ biết là bao.”

Có người cho rằng Đại Long chỉ tùy tiện đáp cho xong. Nếu hiểu như vậy thì chẳng khác nào cắt đứt dòng mạch của Phật pháp.

Bởi vì đối với cổ nhân, mỗi một cơ mỗi một cảnh đều có thể phá gông tháo xiềng. Mỗi một câu một lời đều như ôm vàng chứa ngọc.

Bậc Thiền tăng có con mắt sáng thì khi cần nắm liền nắm, khi cần buông liền buông. Chiếu và dụng đồng thời, có lúc cả người lẫn cảnh đều đoạt, có lúc thu phóng tự tại, tùy thời biến hóa.

Nếu không có đại cơ đại dụng thì làm sao có thể xuất lời che trời phủ đất như vậy.

Cũng giống như chiếc gương sáng treo trên đài: người Hồ đến thì hiện người Hồ, người Hán đến thì hiện người Hán. Không thêm cũng không bớt.

Công án này có phần giống với công án “hoa thược lan”, nhưng ý nghĩa lại không giống nhau. Câu hỏi của vị Tăng ở đây không thật sáng, nhưng câu đáp của Đại Long lại vô cùng khéo léo.

Có lần một vị Tăng hỏi thiền sư Vân Môn:

“Khi lá rụng cành khô thì thế nào?”

Vân Môn đáp:

“Thân bày gió thu.”

Đây gọi là hai mũi tên chống nhau.

Trong công án của Đại Long, vị Tăng hỏi về sắc thân bại hoại và Pháp thân kiên cố. Đại Long lại đáp bằng hình ảnh hoa núi và nước khe. Một bên hỏi theo hướng này, một bên đáp theo hướng khác, giống như người ở Tây Tần nói chuyện với người ở Đông Lỗ.

Người kia đi theo lối ấy thì dễ thấy, còn Đại Long không đi theo lối ấy nên lại càng khó thấy.

Quả thật Đại Long giữ kín cơ phong rất sâu.


Bài tụng cổ

Hỏi từng chẳng biết
Đáp lại chẳng thông
Gió cao trăng lạnh
Cây hàn núi xưa

Cười ngất đường gặp đạt đạo nhân
Chẳng đem nói nín đáp
Tay cầm roi bạch ngọc
Đập tan nát ly châu

Chẳng đập nát
Thêm tỳ vết
Nước có hiến chương
Ba ngàn điều tội.


Giải tụng

Bài tụng của Tuyết Đậu được viết rất công phu.

Ở công án khác, Tuyết Đậu từng nói: “Hỏi đã có tông, đáp cũng tương đồng.” Nhưng ở đây lại nói: “Hỏi từng chẳng biết, đáp lại chẳng thông.”

Câu hỏi của vị Tăng vốn đã không sáng, nhưng câu đáp của Đại Long lại đứng ngoài mà nhìn, nên càng trở nên kỳ đặc.

Trước khi vị Tăng kịp hỏi thì chỗ sai đã có sẵn. Nhưng khi Đại Long đáp bằng hình ảnh “hoa núi nở dường gấm, nước khe trong tợ chàm”, thì lời đáp lại hoàn toàn hợp với cơ nghi.

Người nghe ngày nay thử hỏi: làm sao hiểu được ý của Đại Long?

Vì thế Tuyết Đậu mới nói:

“Gió cao trăng lạnh,
cây hàn núi xưa.”

Đó là cảnh giới thanh tĩnh, rộng rãi, không thể dùng suy nghĩ mà chạm đến.

Chỉ bốn câu ấy đã đủ nói hết ý.

Nhưng Tuyết Đậu sợ người đọc lại rơi vào suy luận, nên nói thêm:

“Cười ngất đường gặp đạt đạo nhân,
chẳng đem nói nín đáp.”

Việc này không thuộc về thấy nghe hiểu biết, cũng không thuộc về suy nghĩ phân biệt.

Hương Nghiêm từng nói:

“Trên đường gặp người đạt đạo,
chớ đem nói nín đáp.”

Có vị Tăng hỏi thiền sư Triệu Châu: “Nếu không dùng nói hay nín để đáp thì dùng gì đáp?” Triệu Châu nói: “Trình đồ đựng sơn.”

Những câu này đều cùng một ý: không rơi vào tình trần và ý tưởng.

Tuyết Đậu tiếp tục ví dụ rằng:

“Tay cầm roi bạch ngọc,
đập tan nát ly châu.”

Tổ lệnh một khi thi hành thì mười phương đều lặng. Đó là việc của lưỡi kiếm bén, phải có tác lược như vậy mới được.

Nếu không đập vỡ thì viên ngọc sẽ sinh tỳ vết. Khi ấy liền lộ ra dấu vết.

Rốt cuộc phải làm sao?

Tuyết Đậu kết rằng:

“Nước có hiến chương, ba ngàn điều tội.”

Trong luật xưa, có ba ngàn điều tội, nặng nhất là bất hiếu. Ý ở đây muốn nói: nếu không dùng đúng việc bổn phận để tiếp người học đạo thì chẳng khác nào phạm hết các tội ấy.

Nhưng với Đại Long thì hoàn toàn không rơi vào lỗi ấy.


Phật học ứng dụng

Công án này nhắc rằng chân lý không thể tìm bằng khái niệm. Khi ta cố gắng dùng lời để nắm bắt bản chất của đời sống, ta dễ rơi vào tranh luận vô tận.

Thiền hướng người học quay về trực tiếp thấy thực tại. Hoa núi nở, nước khe chảy – ngay trong đó đã là pháp thân hiển lộ.


Trung Đạo

Pháp thân không ở ngoài – nó đang nở như hoa núi và chảy như nước khe.


Trọn bộ Lâm Tế ngữ lục

Trọn bộ Lý Hoặc Luận – Mâu Tử

Bích Nham Lục – 100 công án Thiền

Vô Môn Quan – 48 công án Thiền

Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền

Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm

Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn

Du lịch văn hóa & di sản

Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học

Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh


Vật phẩm Phật giáo

Ủng hộ & Đồng hành cùng chúng tôi.