Công án Bích Nham Lục Tắc 31 kể chuyện Ma Cốc cầm gậy nhiễu giường thiền. Chương Kỉnh nói “phải”, Nam Tuyền nói “chẳng phải”, Tuyết Đậu lại bảo cả hai đều lầm.
Công án Thiền
Thiền sư Ma Cốc chống gậy đến tham vấn Chương Kỉnh. Sư đi nhiễu quanh giường thiền ba vòng, rồi dộng tích trượng xuống đất một cái, sau đó đứng nghiêm lặng.
Chương Kỉnh nói:
“Phải! Phải!”
(Tuyết Đậu trước ngữ: “Lầm!”)
Ma Cốc lại đến gặp Nam Tuyền. Sư cũng làm đúng như trước: đi nhiễu giường thiền ba vòng, dộng tích trượng một cái rồi đứng nghiêm.
Nam Tuyền nói:
“Chẳng phải! Chẳng phải!”
(Tuyết Đậu trước ngữ: “Lầm!”)
Ma Cốc hỏi:
“Chương Kỉnh nói phải, tại sao Hòa thượng lại nói chẳng phải?”
Nam Tuyền đáp:
“Chương Kỉnh thì phải, còn ông chẳng phải. Đây là bị phong lực chuyển, rốt cuộc thành bại hoại.”
Giải thích công án
Người xưa khi hành cước tham học khắp các tùng lâm thường đem việc lớn này làm niệm. Họ phải tự mình phân biệt xem các vị lão Hòa thượng ngồi trên giường thiền kia có thật là mắt sáng hay không. Chỉ cần một câu nói khế hợp liền ở lại, một câu không khế hợp liền rời đi.
Ma Cốc đến gặp Chương Kỉnh, đi nhiễu quanh giường thiền ba vòng, dộng tích trượng một cái rồi đứng nghiêm. Chương Kỉnh liền nói: “Phải! Phải!” Một câu này giống như đao giết người, kiếm cứu người – đúng là phong thái của bậc tác gia.
Nhưng Tuyết Đậu lại nói: “Lầm!” Ý của ông là nếu rơi vào hai bên “phải” và “không phải” thì đều chưa thấy được chỗ sống của Thiền.
Vì sao Ma Cốc lại đứng nghiêm như vậy? Vì sao Tuyết Đậu nói lầm? Ma Cốc lầm ở đâu? Chương Kỉnh nói phải, vậy chỗ phải ở đâu?
Sau đó Ma Cốc đem chữ “phải” ấy đến gặp Nam Tuyền, lại làm đúng động tác cũ. Nam Tuyền nói: “Chẳng phải! Chẳng phải!” Một câu này cũng như đao kiếm của bậc Tông sư.
Nhưng Tuyết Đậu lại nói tiếp: “Lầm!”
Chương Kỉnh nói “phải”, Nam Tuyền nói “chẳng phải”. Hai lời này rốt cuộc là đồng hay khác? Vì sao nói phải lại lầm, mà nói chẳng phải cũng lầm?
Nếu người học chỉ hiểu được lời nói của Chương Kỉnh thì tự cứu mình còn chưa xong. Nếu hiểu được lời nói của Nam Tuyền thì có thể cùng Phật Tổ làm thầy.
Tuy nhiên việc ấy không thể chỉ nghe theo miệng người khác. Người học phải tự mình nhận ra.
Ma Cốc hỏi: vì sao người nói phải, người nói chẳng phải? Nếu là bậc tác gia thông đạt thì phải có sinh nhai riêng. Nếu còn chưa quên cơ cảnh, chắc chắn sẽ mắc kẹt ở hai đầu.
Cho nên muốn phân biệt cổ kim, muốn cắt đứt lưỡi thiên hạ, trước hết phải thấy rõ hai chữ “lầm” của Tuyết Đậu.
Có người cho rằng Tuyết Đậu thay Ma Cốc mà phê rằng lầm. Nhưng cách hiểu ấy cũng chưa trúng. Hai chữ “lầm” này chính là khóa chặt cửa trọng yếu. Bên này cũng đúng, bên kia cũng đúng, nhưng chân lý rốt cuộc không nằm ở hai bên.
Tạng chủ Khánh từng nói:
“Chống gậy, nhiễu giường thiền – phải và chẳng phải đều lầm, kỳ thực cũng chẳng ở nơi ấy.”
Xưa Vĩnh Gia đến Tào Khê gặp Lục Tổ, cũng đi nhiễu giường thiền ba vòng rồi dộng tích trượng. Lục Tổ liền quở:
“Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh. Đại đức từ đâu đến mà sinh ngã mạn lớn như vậy?”
Ở đây Lục Tổ không nói phải cũng không nói chẳng phải. Phải và chẳng phải đều chỉ là cọc buộc lừa.
Chính vì vậy hai chữ “lầm” của Tuyết Đậu mới gần với chỗ sống hơn cả.
Khi Ma Cốc hỏi Nam Tuyền vì sao Chương Kỉnh nói phải mà Ngài lại nói chẳng phải, Nam Tuyền đáp:
“Chương Kỉnh thì phải, còn ông chẳng phải.”
Đó là cái nhìn thấy thỏ liền thả chim ưng.
Nhưng Nam Tuyền còn nói thêm:
“Ông bị phong lực chuyển, rốt cuộc thành bại hoại.”
Kinh Viên Giác nói thân này do tứ đại hợp thành: đất, nước, lửa, gió. Tóc lông, da thịt thuộc đất; máu mủ thuộc nước; hơi ấm thuộc lửa; sự động chuyển thuộc gió. Khi tứ đại rời nhau thì thân này còn ở đâu?
Ma Cốc cầm tích trượng đi nhiễu giường thiền chính là bị phong lực chuyển, nên rốt cuộc trở thành bại hoại.
Vậy rốt cuộc chỗ phát minh của Tâm tông nằm ở đâu? Đến chỗ ấy phải là người như sắt thép mới có thể đứng vững.
Xưa Tú tài Trương Chuyết hỏi Thiền sư Trí Tạng:
“Sơn hà đại địa có hay không? Chư Phật ba đời có hay không?”
Trí Tạng đáp:
“Có.”
Trương Chuyết nói:
“Lầm!”
Trí Tạng hỏi:
“Ông từng tham kiến ai?”
Chuyết đáp:
“Từng gặp Hòa thượng Cảnh Sơn. Hỏi gì Ngài cũng nói không.”
Trí Tạng hỏi:
“Ông có quyến thuộc không?”
Chuyết nói:
“Có vợ quê và hai con nhỏ.”
Trí Tạng lại hỏi:
“Cảnh Sơn có quyến thuộc không?”
Chuyết lập tức nói:
“Cảnh Sơn là cổ Phật, chớ phỉ báng Ngài.”
Trí Tạng liền nói:
“Đợi khi ông giống Cảnh Sơn rồi hãy nói tất cả đều không.”
Nghe xong Trương Chuyết chỉ cúi đầu im lặng.
Bậc Tông sư chân chính phải biết mở niêm cởi trói, nhổ đinh tháo chốt cho người. Không thể chấp một bên. Đẩy bên trái thì xoay sang bên phải, đẩy bên phải thì xoay sang bên trái.
Long Nha từng dạy:
“Người tham học phải thấu qua Phật Tổ mới được. Nếu không thấu thì chính là bị Phật Tổ lừa.”
Có người hỏi:
“Phật Tổ lại có tâm lừa người sao?”
Long Nha đáp:
“Sông hồ vốn không có tâm ngại người. Nhưng vì người không qua được nên thành ra bị ngại. Phật Tổ cũng vậy.”
Cho nên muốn không bị Phật Tổ lừa, chỉ có một con đường: tự mình ngộ lấy.
Bài tụng cổ
Thử thố bỉ thố,
Thiết kỵ niêm khước.
Tứ hải lãng bình,
Bách xuyên triều lạc.
Cổ sách phong cao thập nhị môn,
Môn môn hữu lộ không tiêu tác.
Phi tiêu tác,
Tác giả hảo cầu vô bệnh dược.
Dịch nghĩa:
Đây lầm kia lầm,
Tối kỵ nắm lấy.
Bốn biển sóng dừng,
Trăm sông triều lặng.
Đầu gậy gió cao mười hai cửa,
Mỗi cửa đều dẫn vào tịch mịch.
Chẳng tịch mịch,
Tác gia nên tìm thuốc khi chưa bệnh.
Giải tụng
Tuyết Đậu trước hết nói:
“Đây lầm kia lầm, tối kỵ niêm lấy.”
Ý ông muốn nói rằng ở đây có một lầm, ở kia cũng có một lầm. Điều tối kỵ là nắm lấy một bên làm chân lý.
Khi thấy được hai chữ “lầm” ấy thì mọi việc liền lắng xuống. Núi vẫn là núi, nước vẫn là nước. Dài tự dài, ngắn tự ngắn. Năm ngày một trận gió, mười ngày một cơn mưa. Vì thế mới nói:
“Bốn biển sóng dừng, trăm sông triều lặng.”
Đến câu “cổ sách phong cao mười hai cửa”, cây gậy trong tay Thiền sư chính là phương tiện thúc tiến người học. Nếu hiểu được hai chữ “lầm” thì trên đầu gậy cũng phát ra ánh sáng.
Người xưa từng nói:
“Biết được cây gậy thì việc tham học một đời đã xong.”
Nhưng dù có đường vào, cuối cùng cũng chỉ là tịch mịch. Tuyết Đậu biết mình đã nói ra dấu vết, nên lại tự phá:
“Chẳng tịch mịch.”
Bậc tác gia chân chính, ngay cả khi chưa bệnh cũng phải tìm thuốc này uống trước.
Phật học ứng dụng
Công án này nhắc người tu tập rằng chân lý không nằm trong hai cực đối lập. Khi tâm còn mắc kẹt giữa “đúng” và “sai”, “phải” và “không phải”, thì vẫn còn ở ngoài cửa Thiền.
Trong đời sống cũng vậy. Nhiều tranh luận của con người chỉ xoay quanh việc ai đúng ai sai. Nhưng khi cả hai bên đều chấp vào lập trường của mình thì sự thật thường bị che khuất.
Thiền dạy nhìn thẳng vào thực tại trước khi tâm phân biệt khởi lên. Khi thấy được điều đó, người ta không còn bị cuốn theo các đối lập.
Trung Đạo
Khi còn phân biệt “phải” và “chẳng phải”, cây gậy của Ma Cốc vẫn còn đánh vào hư không.
Bích Nham Lục – 100 công án Thiền
Vô Môn Quan – 48 công án Thiền
Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền
Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm
Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn
Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học
Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh
