Công án Bích Nham Lục Tắc 21 kể cuộc đối đáp giữa Thiền sư Trí Môn và vị Tăng về hoa sen chưa ra khỏi nước và đã ra khỏi nước, hé lộ ý chỉ Thiền vượt ngoài nhị nguyên.
Công án Thiền
Một vị Tăng đến hỏi Thiền sư Trí Môn:
“Khi hoa sen chưa ra khỏi nước thì thế nào?”
Trí Môn đáp:
“Hoa sen.”
Vị Tăng lại hỏi:
“Sau khi hoa sen ra khỏi nước thì thế nào?”
Trí Môn đáp:
“Lá sen.”
Giải thích công án
Thoạt nhìn, lời đáp của Trí Môn dường như đơn giản, thậm chí có vẻ không ăn nhập với câu hỏi. Nếu xem đây là cách ứng cơ tiếp vật thì còn thiếu đôi phần. Nhưng nếu nhìn từ chỗ cắt đứt dòng phân biệt, thì lời đáp ấy lại mở ra khoảng cách xa ngàn dặm đối với tư duy thông thường.
Câu hỏi đặt ra: hoa sen khi chưa ra khỏi nước và khi đã ra khỏi nước rốt cuộc là một hay hai? Nếu người học ngay nơi đây thấy rõ thì có thể bước vào cửa Thiền.
Nếu nói là một, thì đã lẫn lộn Phật tánh và Chân như. Nếu nói là hai, thì tâm và cảnh vẫn còn đối đãi, rơi vào con đường tri giải, mãi mãi không dừng.
Thật ra, ý của cổ nhân không phức tạp như người đời tưởng. Đầu Tử từng nói rằng người học chỉ cần đừng mắc kẹt vào danh ngôn và câu chữ. Khi thấy rõ sự việc, tự nhiên không còn bị trói buộc bởi phân biệt. Khi ấy không còn vị thứ cao thấp, không có được mất, tất cả chỉ như mộng huyễn danh mục. Những tên gọi kia chẳng qua chỉ là phương tiện tạm đặt ra vì người hỏi mà thôi.
Nếu không có người hỏi, thì có gì để nói?
Tất cả vấn đề đều do người học đem đến. Bản thân cổ nhân vốn không có chuyện gì cần giải thích.
Cổ đức cũng từng dạy rằng muốn hiểu nghĩa Phật tánh phải nhìn vào thời tiết nhân duyên. Chẳng hạn có vị Tăng hỏi Linh Vân: “Khi Phật chưa ra đời thì thế nào?” Linh Vân liền dựng cây phất tử lên. Khi hỏi: “Sau khi Phật ra đời thì thế nào?” ông cũng chỉ dựng cây phất tử như vậy.
Vân Môn nhận xét rằng đầu trước đánh được, đầu sau đánh không được. Nghĩa là nếu chấp vào hai giai đoạn ra đời và chưa ra đời thì đã sai mất cơ duyên.
Từ xưa đến nay chỉ là một việc. Không phải đúng cũng không phải sai, không được cũng không mất, không sinh cũng không chưa sinh.
Người đã thấu suốt thì suốt mười hai thời trong ngày không nương vào bất cứ vật gì. Nhưng dù không nương tựa, vẫn có thể tùy cơ bày ra cảnh và dụng. Người chưa ngộ thì chỉ quanh quẩn sờ rào, mò vách, nương cỏ gá cây.
Câu hỏi của vị Tăng về hoa sen chưa ra khỏi nước và ra khỏi nước thực ra cũng nằm trong những câu hỏi kiểu như: “Khi cha mẹ chưa sinh thì thế nào?”, “Khi trời đất còn hỗn độn chưa phân thì thế nào?”
Trí Môn trả lời “Hoa sen” cho câu hỏi thứ nhất và “Lá sen” cho câu hỏi thứ hai. Lời đáp ấy chính là cách chặn đứng dòng suy nghĩ phân biệt của người hỏi. Trong mắt người học Thiền, đây là lời đáp rất đặc biệt.
Nham Đầu từng nói rằng chỗ quý nhất chính là trước khi mở miệng. Một khi đã nói ra thì cơ đã lộ dấu vết.
Ngày nay người học không hiểu ý cổ nhân, chỉ chăm chăm lý luận. Nhưng hoa sen ra khỏi nước hay chưa ra khỏi nước, thật ra có dính dáng gì đến chân lý?
Trí Môn còn có nhiều cách đối đáp khác rất kỳ đặc. Khi được hỏi Bát-nhã thể là gì, ông nói: “Con trai ngậm trăng sáng.” Khi hỏi Bát-nhã dụng là gì, ông nói: “Con thỏ mang thai.” Người trong thiên hạ bàn luận mãi về lời nói của ông cũng không thể nắm được mạch ý.
Có người đem câu hỏi này hỏi Giáp Sơn. Giáp Sơn đáp: “Cột cái, lồng đèn.” Khi hỏi tiếp sau khi ra khỏi nước thì thế nào, ông nói: “Đầu gậy khêu nhật nguyệt, dưới chân sình rất sâu.”
Những lời đáp ấy có giống hay khác với Trí Môn? Người học không nên vội vàng lấy một tiêu chuẩn cố định mà phán đoán.
Thế nên Tuyết Đậu mới vì lòng từ bi mà làm bài tụng để phá tan những tình chấp của người học.
Bài tụng cổ
Hoa sen lá sen bảo anh tri
Khỏi nước sao bằng chưa khỏi thì
Giang Bắc Giang Nam hỏi Vương lão
Một hồ nghi lại một hồ nghi.
Giải tụng
Trí Môn vốn người đất Chiết, từng vào đất Xuyên tham học với Hương Lâm và đạt được chỗ thấu triệt. Sau đó trở về trụ trì tại chùa Trí Môn ở Tùy Châu.
Tuyết Đậu là pháp tử của Trí Môn, hiểu rõ chỗ huyền diệu trong lời dạy của thầy nên mới nói:
“Hoa sen, lá sen – hãy tự biết. Ra khỏi nước chưa chắc đã hơn lúc chưa ra.”
Ý của câu này chính là muốn người học ngay nơi đó tự thấy.
Nếu hỏi khi chưa ra khỏi nước là gì, có thể đáp: “Cột cái, lồng đèn.” Nếu hỏi sau khi ra khỏi nước là gì, có thể đáp: “Đầu gậy khêu nhật nguyệt, dưới chân sình rất sâu.”
Người học đừng vội chấp vào một chuẩn mực cố định. Nhiều người chỉ thích nhai lại câu chữ mà không thấy được cơ phong.
Tuyết Đậu nói rằng nếu chưa thấy được ý chỉ này, thì hãy đi khắp Giang Bắc Giang Nam hỏi các bậc tôn túc. Nhưng đi đến đâu cũng chỉ thêm nghi hoặc.
Người học cứ nghe chỗ này hai câu, chỗ kia hai câu, nghi lại chồng thêm nghi. Cũng giống con chồn hoang bước trên mặt băng, cứ ghé tai nghe xem bên dưới có tiếng nước hay không, nếu không nghe thấy mới dám bước tiếp.
Nếu tâm cứ chất đầy nghi như thế, thì bao giờ mới được an ổn?
Phật học ứng dụng
Công án này nhắc người tu không nên kẹt vào sự phân chia nhị nguyên như trước – sau, chưa – đã, sinh – diệt. Những khái niệm ấy chỉ là phương tiện của tư duy. Khi tâm còn bám vào chúng, trí tuệ khó thể hiển lộ.
Trong đời sống, nhiều khi con người luôn tìm kiếm câu trả lời ở bên ngoài mà quên rằng chính tâm phân biệt của mình mới tạo ra vấn đề. Khi buông bớt sự truy cầu và trực nhận thực tại ngay trước mắt, sự việc tự nhiên sáng tỏ.
Trung Đạo
Ngay nơi hoa sen đã thấy lá sen, nhưng người còn hỏi mãi vẫn chỉ thêm một lớp nghi.
Bích Nham Lục – 100 công án Thiền
Vô Môn Quan – 48 công án Thiền
Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền
Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm
Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn
Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học
Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh
