Zalo

Bích Nham Lục Tắc 84 – Duy-ma-cật và pháp môn bất nhị

> Học thuật > Bích Nham Lục > Bích Nham Lục Tắc 84 – Duy-ma-cật và pháp môn bất nhị

Công án Bích Nham Lục tắc 84 kể cuộc đối thoại giữa Duy-ma-cật và Văn-thù về pháp môn bất nhị, nơi lời nói và im lặng đều bị vượt qua.


Công án Thiền

Duy-ma-cật hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

“Những gì là Bồ-tát vào pháp môn bất nhị?”

Văn-thù đáp:

“Như ý tôi, đối với tất cả pháp không nói, không lời, không chỉ, không biết; lìa mọi vấn đáp. Như thế là vào pháp môn bất nhị.”

Sau đó Văn-thù hỏi lại Duy-ma-cật:

“Chúng tôi mỗi người đã tự nói xong, xin nhân giả nói thế nào là Bồ-tát vào pháp môn bất nhị?”

Tuyết Đậu nói:

“Duy-ma-cật nói gì?”

Rồi lại bảo:

“Khám phá xong.”


Giải thích công án

Khi Duy-ma-cật thỉnh các vị đại Bồ-tát nói về pháp môn bất nhị, có ba mươi hai vị lần lượt trình bày. Mỗi vị đều dùng những cặp đối đãi như hữu vi và vô vi, chân đế và tục đế, rồi hợp hai thành một để giải thích pháp môn bất nhị.

Sau cùng đến lượt Văn-thù-sư-lợi. Ngài nói rằng đối với tất cả pháp không nói, không lời, không chỉ bày, không tri biết; rời bỏ mọi vấn đáp. Đó chính là vào pháp môn bất nhị.

Ba mươi hai vị Bồ-tát trước dùng lời để dẹp lời. Văn-thù lại dùng “không lời” để dẹp lời. Đồng thời quét sạch tất cả, không giữ lại điều gì.

Nhưng dù vậy vẫn chưa phải rốt ráo.

Cũng giống như con rùa linh thiêng giấu đuôi nhưng dấu vết vẫn còn. Hay như dùng chổi quét bụi: bụi đã hết nhưng vết chổi vẫn còn.

Sau khi nói xong, Văn-thù hỏi lại Duy-ma-cật:

“Chúng tôi mỗi người đã nói xong, xin nhân giả nói thế nào là pháp môn bất nhị?”

Duy-ma-cật liền lặng thinh.

Nếu là người thật sống thì không rơi vào dòng nước chết. Nếu chấp rằng pháp môn bất nhị chỉ là im lặng, thì chẳng khác gì con chó điên đuổi theo bóng của mình.

Tuyết Đậu khi bình công án này không nói rằng Duy-ma-cật im lặng, cũng không nói rằng ông lặng yên hồi lâu. Sư chỉ hỏi một câu:

“Duy-ma-cật nói gì?”

Chỉ riêng câu hỏi này đã khiến người nghe phải dừng lại.

Nhưng nếu chỉ hiểu theo lời ấy thì vẫn chưa thấy được Duy-ma-cật, ngay trong mộng cũng chưa từng thấy.

Duy-ma-cật vốn là một vị cổ Phật trong quá khứ. Ngài thị hiện làm cư sĩ để giúp Phật hóa độ chúng sinh. Ngài có biện tài bất khả tư nghì, cảnh giới bất khả tư nghì và thần thông diệu dụng bất khả tư nghì.

Trong căn thất chỉ một trượng vuông mà có thể dung chứa ba vạn hai ngàn tòa sư tử, cùng tám vạn đại chúng mà không thấy chật hẹp.

Đó là đạo lý gì?

Có thể gọi đó là thần thông chăng? Cũng không phải.

Pháp môn bất nhị là cảnh giới đồng chứng đồng đắc. Chỉ riêng Văn-thù mới có thể đối đáp ngang hàng với Duy-ma-cật.

Tuy vậy, liệu hai vị có tránh khỏi sự kiểm điểm của Tuyết Đậu hay không?

Tuyết Đậu hỏi:

“Duy-ma nói gì?”

Rồi lại nói:

“Khám phá xong.”

Vậy chỗ khám phá nằm ở đâu?

Đến chỗ này phải vượt khỏi được mất, không rơi vào phải quấy. Giống như đứng trên bờ cao vạn trượng, nếu dám liều thân nhảy qua thì mới thấy được Duy-ma-cật.

Nếu không dám buông bỏ thì giống như bầy nai mắc kẹt nơi hàng rào.

Tuyết Đậu là người dám bỏ thân mạng, nên mới làm bài tụng này.


Bài tụng cổ

Dốt! Cái lão Duy-ma
Bi sanh không buồn thảm
Nằm bệnh Tỳ-da-ly
Toàn thân quá gầy ốm

Tổ sư bảy Phật sang
Một thất hằng luôn quét
Thưa hỏi môn chẳng hai
Khi này liền tựa ghế

Không tựa ghế
Sư tử lông vàng không chỗ tìm.


Giải tụng

Tuyết Đậu mở đầu bằng câu:

“Dốt! Cái lão Duy-ma.”

Chữ “dốt” ở đây giống như lưỡi kiếm Kim Cang chém thẳng xuống đầu. Phải có khí lực mạnh mẽ như vậy mới phá tan mọi chấp trước.

Duy-ma-cật, tiếng Phạn là Vimalakirti, dịch là Vô Cấu Xưng hay Tịnh Danh. Ngài là Như Lai Kim Túc ở đời quá khứ.

Có vị Tăng từng hỏi Hòa thượng Giản ở Vân Cư rằng: nếu đã là Như Lai Kim Túc thì vì sao lại ở trong hội Phật Thích-ca nghe pháp?

Hòa thượng đáp rằng: bậc đại giải thoát không tranh nhân ngã, cũng không bận tâm thành Phật hay không thành Phật.

Trong kinh Duy-ma nói: “Vì chúng sanh bệnh nên ta cũng bệnh.” Đó là lòng bi, không phải buồn thảm.

Câu “nằm bệnh Tỳ-da-ly” nói đến việc Duy-ma-cật thị hiện bệnh ở thành Tỳ-da-ly.

Căn thất của ông rất nhỏ, chỉ khoảng mười hốt vuông, nên về sau gọi là “phương trượng”.

Duy-ma-cật nhân thân bệnh mà nói pháp. Ông nói thân này là vô thường, không bền chắc, là nơi hội tụ của khổ đau và bệnh tật.

Câu “Tổ sư bảy Phật sang” nói đến Bồ-tát Văn-thù, vị thầy của bảy đức Phật, được Phật sai đến thăm bệnh Duy-ma-cật.

Trong căn thất, mọi vật đều được dọn sạch, chỉ còn lại một chiếc giường để đợi Văn-thù đến hỏi pháp môn bất nhị.

Khi Văn-thù hỏi, Duy-ma-cật lặng thinh. Tuyết Đậu gọi đó là “tựa ghế”.

Nhưng ngay sau đó Sư lại nói: “Không tựa ghế.”

Một tay nâng lên, một tay hạ xuống. Đó là thủ đoạn linh hoạt của bậc tông sư.

Cuối cùng Tuyết Đậu kết:

“Sư tử lông vàng không chỗ tìm.”

Không chỉ lúc ấy mà cả bây giờ cũng vậy. Dù khắp núi sông đất liền đều hóa thành sư tử lông vàng, vẫn không thể tìm thấy dấu vết của Duy-ma-cật.


Phật học ứng dụng

Pháp môn bất nhị không phải là khái niệm để hiểu bằng trí năng. Khi tâm còn phân biệt nói và không nói, động và tĩnh, đúng và sai, thì vẫn còn ở ngoài cửa.

Thiền nhắc rằng phải trực tiếp thấy bản chất của tâm mình. Khi mọi phân biệt lắng xuống, thực tại vốn đã tròn đầy.


Trung Đạo

Không lời chưa phải bất nhị — ngay nơi đó cũng phải vượt qua.


Trọn bộ Lâm Tế ngữ lục

Trọn bộ Lý Hoặc Luận – Mâu Tử

Bích Nham Lục – 100 công án Thiền

Vô Môn Quan – 48 công án Thiền

Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền

Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm

Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn

Du lịch văn hóa & di sản

Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học

Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh


Vật phẩm Phật giáo

Ủng hộ & Đồng hành cùng chúng tôi.