Zalo

Bích Nham Lục Tắc 43 – Động Sơn và chỗ không lạnh nóng

> Học thuật > Bích Nham Lục > Bích Nham Lục Tắc 43 – Động Sơn và chỗ không lạnh nóng

Công án Thiền về Động Sơn: khi lạnh nóng đến, làm sao né tránh? Lời đáp “lạnh chết, nóng chết” mở ra ý nghĩa sâu xa về trực diện thực tại.


Công án Thiền

Trong Bích Nham Lục, tắc này kể rằng có một vị Tăng đến hỏi Thiền sư Động Sơn Lương Giới: “Khi lạnh nóng đến thì phải làm sao né tránh?” Động Sơn đáp: “Sao chẳng nhằm chỗ không lạnh nóng mà đi?”

Vị Tăng lại hỏi tiếp: “Thế nào là chỗ không lạnh nóng?”

Động Sơn nói: “Khi lạnh thì lạnh chết Xà-lê, khi nóng thì nóng chết Xà-lê.”


Giải thích công án

Hòa thượng Tân ở Hoàng Long từng bình rằng lời của Động Sơn giống như người lấy tay áo làm cổ áo rồi lại khoét thêm bâu dưới nách. Nghĩa là bày ra một cơ phong khéo léo, vừa mở ra vừa khép lại. Thế nhưng vị Tăng kia vẫn chưa chịu dừng. Nếu ngày nay có người đem câu hỏi ấy đến Hoàng Long thì phải làm sao đuổi dẹp? Hòa thượng lặng im một lúc rồi nói: “An thiền đâu hẳn nhờ sông núi, nếu diệt sạch tâm sanh thì lửa tự nhiên lắng.”

Câu nói này nhằm chỉ ra rằng cái bẫy của Động Sơn nằm ngay nơi tâm người hỏi. Nếu nhận ra được chỗ ấy thì mới hiểu được sự kỳ đặc trong cách tiếp người của Động Sơn. Toàn bộ lời đáp của ngài liên hệ mật thiết đến giáo nghĩa “Ngũ vị” của tông Tào Động tông. Trong đó có những tầng ý nghĩa như Chánh trong Thiên, Thiên trong Chánh, và sự hồi hỗ giữa hai mặt đối đãi. Người đạt được cảnh giới ấy thì hành động tự nhiên khế hợp, không cần bày đặt trước.

Ngũ vị ấy thường được cổ đức diễn tả qua năm bài kệ. Bài thứ nhất gọi là Chánh Trung Thiên, nói rằng trong đêm canh ba trăng sáng, gặp nhau mà không nhận ra nhau, vẫn âm thầm ôm giữ những vướng mắc cũ. Bài thứ hai là Thiên Trung Chánh, ví như người mắt sáng soi gương cổ, đối diện rõ ràng mà lại không có dấu chân thật, nhắc rằng đừng quên nguồn mà chỉ nhận cái bóng. Bài thứ ba là Chánh Trung Lai, nói rằng giữa hư không không có con đường thoát khỏi bụi trần, chỉ cần không chạm vào điều cấm kỵ của hiện tại đã vượt hơn kẻ xưa từng cắt lưỡi để giữ bí mật. Bài thứ tư là Thiên Trung Chí, nơi hai mũi nhọn giao phong mà không cần tránh né, bàn tay khéo léo vẫn như hoa sen trong lò lửa, tự nhiên có khí thế vươn lên trời cao. Bài thứ năm là Kiêm Trung Đáo, chỉ trạng thái không rơi vào có cũng không rơi vào không; ai cũng muốn vượt ra ngoài dòng thường, nhưng cuối cùng lại quay về ngồi trong tro tàn.

Viễn Lục công ở Phù Sơn từng lấy chính công án này làm mẫu để giải thích Ngũ vị. Chỉ cần hiểu được một tắc thì các tắc khác tự nhiên cũng mở ra. Thiền sư Nham Đầu Toàn Hoát từng ví cơ phong ấy giống như trái bầu nổi trên mặt nước: chỉ cần khẽ chạm là nó xoay tròn, mà không cần dùng chút sức nào.

Có lần một vị Tăng hỏi Động Sơn: “Nếu Văn‑thù Bồ‑tát và Phổ Hiền Bồ‑tát đến tham vấn thì sao?” Động Sơn đáp: “Đuổi họ vào trong bầy trâu.” Vị Tăng nói: “Hòa thượng vào địa ngục nhanh như tên.” Động Sơn lại bảo: “Toàn nhờ tha lực.” Những lời đáp như thế cho thấy cơ phong của ngài luôn phá vỡ cách suy nghĩ thông thường.

Trong công án chính, câu “hãy đến chỗ không lạnh nóng” thuộc về thế Thiên trong Chánh. Khi vị Tăng hỏi tiếp “chỗ ấy ở đâu”, Động Sơn đáp “khi lạnh thì lạnh chết Xà-lê, khi nóng thì nóng chết Xà-lê”, đó là Chánh trong Thiên. Tuy Chánh mà vẫn Thiên, tuy Thiên mà vẫn tròn đầy. Với người trong tông Lâm Tế, những công án như vậy thường được hiểu trực tiếp ngay tại chỗ, không cần phân tích nhiều. Bởi vậy cổ nhân mới nói: nếu chạy trên lưỡi kiếm sắc thì rất nhanh, nhưng nếu chạy trên tình thức thì lại chậm chạp.

Thiền sư Thúy Vi Vô Học từng có một câu chuyện tương tự. Khi được hỏi ý Tổ sư Tây sang là gì, ngài bảo: “Đợi khi không có người ta sẽ nói.” Sau đó dẫn vị Tăng ra vườn, rồi chỉ hai bụi tre và nói: “Cây này dài như thế ấy, cây kia ngắn như thế ấy.” Nghe xong vị Tăng bỗng nhiên đại ngộ. Ý nghĩa ở đây cũng giống như lời của Động Sơn: thực tại hiển hiện ngay trước mắt, không cần tìm nơi khác.

Thiền sư Tào Sơn Bổn Tịch cũng từng hỏi một vị Tăng: “Khi nóng bức đến thì ông trốn ở đâu?” Vị Tăng đáp: “Tôi trốn trong chảo dầu lò lửa.” Tào Sơn hỏi tiếp: “Trong chảo dầu lò lửa thì trốn thế nào?” Vị Tăng đáp: “Các khổ không thể đến.” Những lời đối đáp như vậy chỉ có người trong nhà mới hiểu được. Bởi thế Tuyết Đậu đem chính việc ấy làm bài tụng cho công án này.


Bài tụng cổ

Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển tụng rằng:

“Thùy thủ hoàn đồng vạn nhẫn nhai
Chánh thiên hà tất tại an bài
Lưu-ly cổ điện chiếu minh nguyệt
Nhẫn tuấn Hàn lô không thượng giai.”

Dịch nghĩa:

“Tay duỗi lại đồng muôn trượng bờ,
Chánh thiên đâu hẳn phải an bài.
Điện cổ lưu-ly trăng sáng chiếu,
Đáng cười Hàn lô luống đến thềm.”


Giải tụng

Trong tông Tào Động có nói đến việc xuất thế giáo hóa và không xuất thế giáo hóa, có lúc duỗi tay, có lúc không duỗi tay. Khi không xuất thế thì như người đứng trên đỉnh cao nhìn mây xanh; khi xuất thế thì như đầu tro mặt đất giữa chợ đời. Đỉnh cao và đầu tro thoạt nhìn như hai cảnh khác nhau, nhưng kỳ thực chỉ là một thể. Có khi đứng trên đỉnh cao chính là đang ở giữa bụi đất, và có khi ở giữa bụi đất lại chính là đỉnh cao. Bởi vậy cổ nhân mới nói “tay duỗi lại đồng muôn trượng bờ”, nghĩa là không có chỗ nào cho tâm bám víu.

Câu “Chánh thiên nào hẳn tại an bài” chỉ ra rằng khi dụng đến thì mọi thứ tự nhiên khế hợp, không phải do sắp đặt trước. Đây chính là ý của lời đáp “hãy đến chỗ không lạnh nóng”.

Hai câu sau “điện cổ lưu-ly trăng sáng chiếu, đáng cười Hàn lô luống đến thềm” nhằm nói đến vị Tăng trong công án. Trăng sáng chiếu trên điện lưu-ly, ánh sáng tròn đầy hiện ra khắp nơi. Nhưng vị Tăng giống như con chó Hàn lô chạy theo bóng trăng, tưởng rằng có thể bắt được. Đuổi đến thềm điện thì bóng trăng lại biến mất. Vì thế khi vị Tăng hỏi “chỗ không lạnh nóng ở đâu”, Động Sơn đáp rằng “khi lạnh thì lạnh chết, khi nóng thì nóng chết”. Người còn chạy theo bóng thì không bao giờ thấy được trăng thật.

Chuyện Hàn lô xuất phát từ sách Chiến Quốc Sách. Trong đó nói rằng con chó săn của họ Hàn rất giỏi, còn con thỏ trong núi lại rất lanh. Chỉ con chó ấy mới đuổi kịp con thỏ kia. Tuyết Đậu mượn hình ảnh ấy để ví vị Tăng đuổi theo lời nói của Động Sơn.

Sau khi nói xong, Tuyết Đậu lặng thinh một lúc rồi hỏi: “Các ông có biết Động Sơn vì người ở chỗ nào không?” Một lát sau ngài lại nói: “Tìm con thỏ nào?”


Phật học ứng dụng

Công án này chỉ ra rằng con người thường muốn trốn tránh hoàn cảnh: gặp lạnh thì tìm nơi ấm, gặp nóng thì tìm nơi mát. Nhưng trong đời sống tâm lý cũng vậy, ta luôn muốn trốn khỏi khó chịu, phiền não, hay đau khổ. Lời của Động Sơn nhắc rằng chỗ giải thoát không nằm ở việc chạy trốn hoàn cảnh, mà ở chỗ trực diện hoàn cảnh. Khi tâm không còn chống cự, lạnh và nóng chỉ còn là hiện tượng tự nhiên, không còn là gánh nặng.

Trong tu tập, điều quan trọng không phải tìm một “nơi thanh tịnh” tách khỏi đời sống, mà là ngay trong mọi hoàn cảnh vẫn giữ được sự tỉnh sáng.


Trung Đạo
Khi không còn chạy trốn lạnh nóng, ngay đó chính là chỗ không lạnh nóng.


Trọn bộ Lâm Tế ngữ lục

Trọn bộ Lý Hoặc Luận – Mâu Tử

Bích Nham Lục – 100 công án Thiền

Vô Môn Quan – 48 công án Thiền

Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền

Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm

Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn

Du lịch văn hóa & di sản

Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học

Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh


Vật phẩm Phật giáo

Ủng hộ & Đồng hành cùng chúng tôi.