Công án Nam Tuyền chỉ hoa trước sân khi Lục Hoàn hỏi về “trời đất đồng gốc, vạn vật một thể”, hé lộ tinh thần Thiền vượt ngoài khái niệm.
Công án Thiền
Đại phu Lục Hoàn một hôm đàm đạo với Thiền sư Nam Tuyền. Trong lúc trò chuyện, ông nêu ra một câu trong luận của Triệu pháp sư và hỏi rằng: “Triệu pháp sư nói: ‘Trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng ta một thể.’ Thật là kỳ quái phải không?”
Nam Tuyền không trả lời trực tiếp. Ngài chỉ vào một gốc hoa trước sân, gọi đại phu rồi nói: “Người đời nhìn gốc hoa này, cũng giống hệt như đang ở trong mộng.”
Giải thích công án
Đại phu Lục Hoàn đã theo tham học với Nam Tuyền từ lâu. Bình thường ông rất lưu tâm đến lý tánh và thường nghiên cứu các trước tác triết học, đặc biệt là Triệu Luận của pháp sư Tăng Triệu. Một hôm đang bàn luận, ông đưa ra hai câu nổi tiếng trong luận ấy và cho rằng ý nghĩa của chúng thật kỳ đặc, nên đem ra hỏi Nam Tuyền.
Triệu pháp sư, tức Tăng Triệu, là một vị cao tăng thời Đông Tấn. Ngài cùng với các vị Đạo Sanh, Tăng Duệ và Đạo Dung đều học dưới sự chỉ dạy của đại dịch giả Cưu-ma-la-thập, nên được gọi là “Tứ triết”. Thuở nhỏ Tăng Triệu rất thích đọc Lão Tử và Trang Tử, nhưng sau khi đọc kinh Duy-ma-cật thì bỗng nhiên có chỗ khai ngộ, từ đó nhận ra rằng tư tưởng Lão Trang vẫn chưa đạt đến chỗ rốt ráo. Sau này Ngài tổng hợp tinh thần kinh điển mà viết thành bốn bộ luận nổi tiếng: Bát-nhã Vô Tri Luận, Bất Chân Không Luận, Vật Bất Thiên Luận và Niết-bàn Vô Danh Luận.
Tư tưởng của Lão Trang thường nói rằng trời đất và con người cùng sinh ra từ hư vô, mọi vật đều bình đẳng trong tự nhiên. Còn Tăng Triệu thì đem tinh thần Bát-nhã để luận rằng vạn pháp rốt cuộc đều quy về tự tánh. Trong luận của Ngài có nói: bậc chí chân tuy rỗng rang không hình tượng nhưng vạn vật đều từ đó mà hiện khởi; khi hội tất cả vạn vật trở về nơi chính mình thì đó chính là cảnh giới của bậc Thánh. Tuy có thần, có người, có hiền, có Thánh với hình thức khác nhau, nhưng rốt cuộc đều cùng một tánh, cùng một thể.
Cổ nhân cũng từng nói rằng khắp cả càn khôn đại địa chỉ là một cái chính mình. Khi lạnh thì trời đất đều lạnh, khi nóng thì trời đất đều nóng; có thì khắp nơi đều có, không thì khắp nơi đều không; phải thì khắp nơi đều phải, quấy thì khắp nơi đều quấy. Thiền sư Pháp Nhãn từng nói: “Ta ta ta, y y y, nam bắc đông tây đều tốt; chẳng tốt cũng là tốt.” Câu nói này nhằm chỉ rõ sự đồng nhất giữa tự tâm và vạn pháp.
Trong Thiền tông còn có câu: “Trên trời dưới trời, chỉ ta là tôn quý.” Thạch Đầu Hy Thiên khi đọc Triệu Luận đến câu “hội vạn vật về chính mình” thì bỗng nhiên đại ngộ, sau đó soạn ra bản Tham Đồng Khế, tinh thần cũng không ngoài ý này.
Nhưng khi Lục Hoàn đem hai câu “trời đất đồng gốc, vạn vật một thể” ra hỏi, thì dù nghe có vẻ cao siêu, thực ra vẫn chưa ra khỏi ý nghĩa trong kinh luận. Nếu cho rằng đây đã là chỗ rốt ráo, vậy thì vì sao Đức Thế Tôn còn phải niêm hoa, và vì sao Tổ sư Bồ-đề-đạt-ma lại từ Tây sang Đông để truyền Thiền?
Nam Tuyền hiểu rõ chỗ vướng mắc của Lục Hoàn. Ông đang dừng lại ở tầng lý luận, nên Nam Tuyền liền dùng “lỗ mũi của Thiền tăng” mà nắm lấy. Lục Hoàn đưa ra chỗ đau của mình, và Nam Tuyền liền đánh thẳng vào đó để phá tan cái hang ổ khái niệm.
Ngài không bàn luận triết lý mà chỉ vào gốc hoa trước sân, gọi đại phu rồi nói rằng người đời nhìn gốc hoa này cũng giống như ở trong mộng. Câu nói ấy giống như dẫn người lên mép vách cao muôn trượng rồi đẩy một cái khiến họ rơi thẳng xuống. Nếu chỉ đẩy trên mặt đất bằng thì dù cho Phật Di-lặc ra đời cũng không thể làm cho người ấy chết được.
Tình huống ấy giống như người đang nằm mộng muốn tỉnh mà không tỉnh được. Nếu có ai gọi lớn một tiếng thì bỗng nhiên tỉnh dậy. Nếu Nam Tuyền không có con mắt sáng suốt, rất có thể đã bị Lục Hoàn kéo vào cuộc tranh luận triết lý. Nhưng với một câu đơn giản, Ngài đã phá tan toàn bộ sự chấp trước.
Lời nói của Nam Tuyền vì thế rất khó hiểu. Với người có con mắt linh động thì nghe giống như uống được đề-hồ, tức là thứ sữa tinh khiết nhất; còn với người đã chết trong ý niệm thì nghe vào lại trở thành thuốc độc.
Cổ nhân nói rằng nếu chỉ nhìn theo sự việc bên ngoài thì rơi vào tầm thường, còn nếu cố gắng suy xét bằng ý thức thì cũng không thể chạm đến. Thiền sư Nham Đầu từng nói đây là con đường sống của người hướng thượng, chỉ lóe lên trước mắt trong chốc lát như tia điện.
Thủ đoạn của Nam Tuyền giống như người có thể bắt hổ, bắt tê giác, chế phục cả rồng rắn. Đến chỗ này, mỗi người phải tự mình lãnh hội. Bởi vì con đường hướng thượng vốn không thể truyền dạy bằng lời; nếu chỉ cố gắng bắt chước thì chẳng khác nào con khỉ muốn bắt bóng trăng.
Tuyết Đậu hiểu rõ ý ấy nên làm bài tụng để chỉ thêm.
Bài tụng cổ
Hiểu biết thấy nghe chẳng phải một
Núi sông nào ở tại gương xem
Trời sương trăng lặn đêm vừa nửa
Ai với đầm trong soi bóng kèm.
Giải tụng
Nam Tuyền chỉ nói rất ít, còn Tuyết Đậu trong bài tụng lại nói nhiều hơn. Tuy vậy, dù nói nhiều hay ít thì tất cả cũng chỉ như tạo thêm một giấc mộng đẹp.
Trong phần đầu của công án nói đến “một thể”, còn trong bài tụng Tuyết Đậu lại nói “không phải một”. Câu “hiểu biết thấy nghe chẳng phải một, núi sông nào ở tại gương xem” muốn phá bỏ thói quen nhìn thế giới qua một tấm gương khái niệm. Nếu cho rằng phải nhờ chiếc gương mới thấy được núi sông thì vẫn còn bị lệ thuộc vào cái gương ấy.
Thực ra núi sông, đất liền, cỏ cây rừng rậm vốn tự hiện bày. Nếu đem gương ra soi thì lập tức thành hai phần: một bên là vật, một bên là gương. Vì vậy chỉ cần để núi là núi, nước là nước; mỗi pháp tự trụ đúng vị trí của mình, tướng thế gian vốn thường trụ như thế.
Tuyết Đậu nói núi sông không ở trong gương để xem. Vậy rốt cuộc phải xem ở đâu? Nếu tự mình nhận ra thì mới không phụ lòng người xưa.
Đến câu “trời sương trăng lặn đêm vừa nửa”, Tuyết Đậu như đã mở một nửa cánh cửa. Phần còn lại phải do mỗi người tự bước qua. Câu cuối “ai với đầm trong soi bóng kèm” đặt ra câu hỏi: đó là tự soi hay cùng người khác soi?
Muốn đến được chỗ ấy thì phải dứt sạch mọi cơ mưu và hiểu biết. Khi đó không cần đợi trời sương hay trăng lặn, cũng không cần đợi đầm nước trong. Ngay trong khoảnh khắc hiện tại, chính mình đang làm gì?
Phật học ứng dụng
Công án này nhắc rằng hiểu biết triết học về “vạn vật một thể” chưa phải là giác ngộ. Khi tâm còn đứng bên ngoài để suy luận, ta vẫn đang ở trong giấc mộng của khái niệm. Thiền không phủ nhận chân lý ấy, nhưng yêu cầu phải trực tiếp sống với nó chứ không chỉ bàn luận.
Trong đời sống, điều này nhắc ta quay về nhìn thẳng thực tại trước mắt. Một bông hoa, một hơi thở, một bước chân đều có thể là nơi tỉnh thức nếu ta không còn bị che phủ bởi ý niệm.
Trung Đạo
Khi ý niệm tan đi, một gốc hoa cũng đủ đánh thức cả càn khôn.
Bích Nham Lục – 100 công án Thiền
Vô Môn Quan – 48 công án Thiền
Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền
Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm
Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn
Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học
Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh
