Zalo

Bích Nham Lục Tắc 13 – Chén bạc đựng đầy tuyết

> Học thuật > Bích Nham Lục > Bích Nham Lục Tắc 13 – Chén bạc đựng đầy tuyết

Công án Thiền trong Bích Nham Lục: Ba Lăng đáp “trong chén bạc đựng tuyết” khi được hỏi về tông Đề-bà, chỉ thẳng chỗ vượt ngoài lời nói.


Công án Thiền

Một vị Tăng hỏi Thiền sư Ba Lăng Hạo Giám: “Thế nào là tông Đề-bà?”

Ba Lăng đáp: “Trong chén bạc đựng tuyết.”


Giải thích công án

Công án này thường bị hiểu lầm. Có người nghe đến “tông Đề-bà” liền nghĩ đến tông phái của ngoại đạo và cho rằng điều ấy không liên quan đến Phật pháp.

Thực ra, Tổ thứ mười lăm trong truyền thừa Thiền tông là Tôn giả Ca Na Đề Bà, đệ tử của Tôn giả Long Thọ. Trước khi gặp Long Thọ, Đề-bà từng ở trong hàng ngoại đạo. Khi đến tham vấn, Ngài thả một cây kim vào chậu nước. Long Thọ thấy vậy liền nhận ra căn cơ của ông và truyền Tâm tông của Phật cho, từ đó Đề-bà trở thành Tổ thứ mười lăm.

Trong kinh Lăng Già Kinh có nói: Phật lấy tâm làm tông, lấy cửa Không làm cửa Pháp.

Về sau Mã Tổ Đạo Nhất từng dạy rằng: “Phàm có câu lời đều là tông Đề-bà.” Ngài còn hỏi các Thiền khách rằng đã từng thể cứu tông Đề-bà hay chưa. Nếu thể cứu được thì chín mươi sáu phái ngoại đạo ở Ấn Độ cũng có thể một lúc hàng phục. Nếu không thể cứu thì vẫn còn đang mặc ngược chiếc áo cà-sa.

Ý của Mã Tổ không phải ở ngôn ngữ, nhưng cũng không rời ngôn ngữ. Nếu nói lời nói là đúng thì không phải, nếu nói lời nói là sai cũng không phải.

Sau này Vân Môn Văn Yển nhận xét rằng Mã Tổ nói năng rất khéo, chỉ tiếc là không có người biết hỏi. Khi có vị Tăng hỏi: “Thế nào là tông Đề-bà?” Vân Môn đáp: “Chín mươi sáu thứ, ông là hạng chót.”

Ở Ấn Độ xưa, khi các tông phái luận nghị, người thắng sẽ cầm cờ đỏ, người thua phải mặc ngược áo cà-sa và đi ra cửa hông. Một lần Tôn giả Đề-bà thấy ngoại đạo muốn phá hoại Phật pháp, bèn dùng thần thông lên lầu đánh chuông để thách luận.

Ngoại đạo hỏi người đánh chuông là ai, Đề-bà lần lượt đáp bằng những câu hỏi ngược lại. Họ hỏi “Trời là gì?”, Ngài đáp “Ta”; hỏi “Ta là gì?”, Ngài đáp “Ta là ngươi”; rồi lại hỏi tiếp, Ngài đáp “Ngươi là chó”. Cứ thế qua lại nhiều lần, cuối cùng ngoại đạo tự biết mình đã thua.

Đề-bà cầm cờ đỏ bước xuống lầu. Những người thua cuộc muốn tự chặt đầu tạ tội, nhưng Ngài ngăn lại và giáo hóa họ cạo tóc xuất gia. Từ đó tông phong Đề-bà hưng thịnh.

Thiền sư Ba Lăng vốn là đệ tử của Vân Môn. Khi còn trong chúng, Ngài thường vác tọa cụ đi khắp nơi hành cước. Sau khi nhận được đại ý Thiền dưới chân Vân Môn, Ngài trở nên rất kỳ đặc.

Sau này khi xuất thế, Ba Lăng từng dâng lên thầy ba câu chuyển ngữ:

Một là khi hỏi “Thế nào là đạo?”, Ngài đáp: “Người mắt sáng rơi giếng.”

Hai là khi hỏi “Thế nào là kiếm xuy mao?”, Ngài đáp: “Cành san-hô chống đến trăng.”

Ba là khi hỏi “Thế nào là tông Đề-bà?”, Ngài đáp: “Trong chén bạc đựng tuyết.”

Nghe xong, Vân Môn nói rằng sau này đến ngày kỵ của mình, chỉ cần nêu ba câu ấy để báo ân là đủ. Quả nhiên về sau khi Vân Môn viên tịch, môn đồ không làm trai kỵ long trọng mà chỉ nêu lại ba câu chuyển ngữ ấy.

Những nơi khác khi trả lời câu hỏi này thường giải thích theo sự vật. Nhưng Ba Lăng nói “trong chén bạc đựng tuyết” thì khác hẳn. Câu nói ấy cao vút, không để lộ mũi giáo, nhưng tám hướng đều có thể ứng chiến. Nó mở ra con đường xuất thân, phá vỡ mọi tình kiến của người học.


Bài tụng cổ

Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển tụng:

“Lão Tân Khai
Quả thật khác
Khéo nói chén bạc đựng đầy tuyết.

Chín mươi sáu thứ nên tự tri
Chẳng biết lại hỏi bên trời nguyệt.

Tông Đề-bà, tông Đề-bà
Dưới lá cờ đỏ gió mát lành.”


Giải tụng

“Tân Khai” là tên Thiền viện nơi Ba Lăng từng trụ trì. Khi nói “lão Tân Khai quả thật khác”, Tuyết Đậu đang tán thán cơ phong đặc biệt của Ba Lăng.

Tuyết Đậu tiếp tục nói “khéo nói chén bạc đựng đầy tuyết”. Hình ảnh chén bạc và tuyết đều trắng tinh, đặt chung lại gần như không phân biệt được. Ý của câu này là cảnh giới nhất sắc, nơi mọi phân biệt đều tan biến.

Khi nói “chín mươi sáu thứ nên tự tri”, Tuyết Đậu nhắc đến chín mươi sáu phái ngoại đạo của Ấn Độ. Người hiểu được tông Đề-bà thì tự biết chỗ thua thắng. Nếu không hiểu mà vẫn tiếp tục hỏi thì chỉ như người ngước nhìn trăng ở phương trời xa.

Sau cùng, Tuyết Đậu nhắc lại “tông Đề-bà, tông Đề-bà” rồi nói “dưới lá cờ đỏ gió mát lành”. Lá cờ đỏ là dấu hiệu của người thắng trong luận nghị. Nhưng ở đây không phải thắng người khác mà là thắng chính sự mê lầm của mình. Khi mê lầm tan đi thì gió mát tự nhiên thổi đến.

Điều đáng chú ý là Ba Lăng nói “chén bạc đựng tuyết”, còn Tuyết Đậu lại nói “dưới lá cờ đỏ gió mát lành”. Hai hình ảnh khác nhau nhưng cùng chỉ một chỗ. Người hiểu được thì ngay nơi đó liền thoát khỏi mọi ràng buộc của lời nói.


Phật học ứng dụng

Công án này nhắc người tu rằng chân lý không nằm trong sự tranh luận hay khái niệm.

Trong đời sống, con người thường muốn phân biệt đúng sai, thắng thua. Nhưng Thiền không đặt trọng tâm ở sự thắng thua ấy. Khi tâm buông bỏ mọi phân biệt, thì thế giới trở nên trong sáng như chén bạc đựng tuyết.

Tu tập vì vậy không phải là tích lũy tri thức, mà là nhận ra bản tâm vốn thanh tịnh ngay trong hiện tại.


Trung Đạo

Khi tâm trong sáng như chén bạc đựng tuyết, thắng thua liền tan như gió.


Trọn bộ Lâm Tế ngữ lục

Trọn bộ Lý Hoặc Luận – Mâu Tử

Bích Nham Lục – 100 công án Thiền

Vô Môn Quan – 48 công án Thiền

Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền

Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm

Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn

Du lịch văn hóa & di sản

Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học

Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh


Vật phẩm Phật giáo

Ủng hộ & Đồng hành cùng chúng tôi.