Công án Thiền trong Bích Nham Lục: Triệu Châu đáp “cửa Đông cửa Tây cửa Nam cửa Bắc”. Một lời giản dị nhưng phá tan mọi chấp trước về ngôn cú và tri kiến.
Công án Thiền
Một vị tăng đến hỏi thiền sư Triệu Châu: “Thế nào là Triệu Châu?”
Triệu Châu đáp: “Cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc.”
Giải thích công án
Người tham thiền cầu đạo phải quay lại xét rõ chính mình. Điều tối kỵ là đem tâm phân biệt mà lựa chọn, suy đoán từng lời từng chữ. Vì sao? Bởi chính Triệu Châu từng nói: “Chí đạo không khó, chỉ hiềm giản trạch.” Con đường chân thật vốn không khó, chỉ vì người ta cứ so đo chọn lựa nên tự làm cho rối rắm.
Thiền sư Vân Môn cũng từng nói rằng nhiều Thiền khách tụ tập lại với nhau, ba người năm người chụm đầu bàn luận ồn ào, rồi phân loại lời nói của cổ nhân rằng câu này là “thượng tài cú”, câu kia là “tựu thân đả xuất”. Nhưng họ không biết rằng những lời ấy vốn chỉ là phương tiện của cổ nhân.
Trong cửa phương tiện của Thiền tông, vì hàng sơ cơ chưa rõ tâm địa, chưa thấy bản tánh nên các bậc thầy bất đắc dĩ phải dùng lời nói để chỉ bày. Nhưng cốt tủy của Thiền không nằm ở lời nói.
Từ khi Tổ sư từ Ấn Độ sang Đông độ, pháp mạch được truyền riêng bằng tâm ấn, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Trong con đường này, cần phải chặt đứt sự bám víu vào ngôn ngữ, thấy thẳng vào thực tại ngoài lời nói. Khi đã thấu thoát được điều ấy, người tu giống như rồng gặp nước, như cọp tựa núi.
Những bậc tham thiền lâu năm đôi khi đã thấy mà chưa thấu, thấu mà chưa minh, nên vẫn còn đến hỏi để cầu chỉ dạy thêm. Nhưng dù hỏi thêm, rốt cuộc việc này vẫn không nằm trong ngôn cú.
Bởi vậy Vân Môn mới nói: nếu chân lý nằm trong lời nói thì kinh điển của ba thừa mười hai phần giáo đã đầy đủ ngôn cú rồi, hà tất Tổ Đạt-ma phải từ Ấn Độ sang Trung Hoa?
Câu hỏi của vị tăng trong công án này thuộc loại “nghiệm chủ vấn” hay “thám bạt vấn”, tức là câu hỏi để thử xem người đối diện có thực sự thấu triệt hay không. Câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng lại rất sắc bén. Nếu không phải là bậc tác gia như Triệu Châu thì cũng khó lòng đáp nổi.
Khi vị tăng hỏi: “Thế nào là Triệu Châu?”, Triệu Châu lập tức đáp: “Cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc.”
Người đời sau có kẻ hiểu lầm rằng đây chỉ là “vô sự thiền”, tức là trả lời cho qua chuyện. Nhưng cách hiểu ấy hoàn toàn sai lạc.
Nếu cho rằng Triệu Châu chỉ nói về bốn cửa của thành Triệu Châu thì người dân trong ba thôn cũng có thể hiểu Phật pháp rồi. Cách hiểu như vậy chẳng khác nào phá hoại Phật pháp, giống như đem con mắt cá so sánh với hạt minh châu: tuy có vẻ giống nhau nhưng bản chất hoàn toàn khác.
Có người lại nói rằng Thiền là vô sự, chỉ cần gặp trà thì uống trà, gặp cơm thì ăn cơm. Những lời ấy nghe có vẻ tự nhiên nhưng nếu chưa thật sự chứng ngộ mà nói như vậy thì chỉ là vọng ngữ.
Nhiều người từ trước đến nay chưa từng tham cứu thấu đáo, nghe người khác nói đến tâm tánh, nói đến huyền diệu liền phủ nhận tất cả, cho rằng xưa nay vốn không có việc gì. Đó chẳng khác nào người mù dẫn người mù.
Trước khi Tổ sư sang Đông độ, người ta gọi trời là đất, gọi núi là sông, mọi thứ đều đảo lộn. Sau khi thấy được chân lý, thì trời lại là trời, đất lại là đất, núi lại là núi, nước lại là nước.
Cổ nhân nói: tâm là căn, pháp là trần; hai thứ này giống như dấu vết trên mặt gương. Khi đến chỗ rốt ráo, tất cả đều rơi rụng, con người trở nên thong dong tự tại, giống hệt một người bình thường.
Tuy vậy, ngay cả khi đạt đến chỗ ấy cũng chưa phải là chỗ an ổn cuối cùng. Nhiều người hiểu lầm cho rằng đó là cảnh vô sự nên không lễ Phật, không đốt hương. Nhìn bề ngoài thì giống, nhưng thực ra vẫn chưa phải.
Khi bị hỏi đến thì họ rơi vào chỗ bối rối, giống như người ôm bụng rỗng tâm cao. Đến đêm ba mươi tháng chạp mới giật mình vỗ ngực thì đã muộn.
Cho nên khi vị tăng hỏi Triệu Châu như vậy và Triệu Châu đáp như vậy, người học không thể dùng suy luận thông thường mà dò tìm. Nói rằng đúng cũng không được, nói rằng sai cũng không xong.
Chính vì chỗ này khó hiểu nên Tuyết Đậu mới nêu công án ra để chỉ bày.
Một hôm khác, khi Triệu Châu đang ngồi, thị giả vào báo: “Có Đại vương đến.”
Triệu Châu liền vội vàng nói: “Đại vương muôn phước.”
Thị giả thưa: “Bạch Hòa thượng, Đại vương chưa đến.”
Triệu Châu đáp: “Lại nói đến rồi!”
Người tham thiền nếu thấy được chỗ này thì thật là kỳ đặc.
Thiền sư Nam bình luận rằng thị giả chỉ biết báo khách mà không biết mình đang ở trong đế hương. Còn Triệu Châu thì vào cỏ tìm người, bất giác toàn thân dính bùn. Chỗ chân thật ấy, người học có nhận ra hay không?
Hãy xem bài tụng của Tuyết Đậu.
Bài tụng cổ
Trong cú trình cơ vạch mặt ra
Trần ai chẳng dính mắt ca-la
Nam bắc đông tây cửa tương đối
Biết bao chùy sắt đập chẳng ra.
Giải tụng
Triệu Châu khi ứng cơ giống như bảo kiếm Kim Cang Vương. Vừa khởi niệm suy nghĩ là đã bị chặt đứt ngay. Thường khi đối diện người học, ngài dường như trực tiếp móc lấy con mắt của họ.
Vị tăng đặt câu hỏi trong công án này giống như dám nhổ râu cọp. Câu hỏi dường như vô sự sinh sự, nhưng thực ra trong đó đã hàm chứa cơ phong. Chính vì thế mà nói rằng “trong cú trình cơ vạch mặt ra”.
Triệu Châu không phụ câu hỏi ấy nên cũng đem cơ phong của mình ra đáp lại. Không phải bất cứ ai hỏi cũng được trả lời như vậy. Chỉ khi người hỏi và người đáp cùng khế hợp thì mới giống như đã có sự sắp đặt từ trước.
Câu chuyện này tương tự một giai thoại khác. Có một ngoại đạo cầm một con chim sẻ trong tay đến hỏi Phật: “Xin nói xem con chim trong tay tôi sống hay chết?”
Nếu Phật nói sống, ông ta có thể bóp chết; nếu nói chết, ông ta có thể thả cho bay. Nhưng Đức Phật không trả lời trực tiếp. Ngài bước đến bậc cửa rồi hỏi lại: “Ngươi nói xem ta đang đi ra hay đi vào?”
Ngoại đạo lập tức không đáp được và cúi đầu lễ bái.
Cách đối đáp ấy tương tự như trong công án này. Cổ nhân thường nói: câu hỏi nằm trong câu trả lời, và câu trả lời cũng nằm ngay trong câu hỏi.
Tuyết Đậu nhìn thấu chỗ ấy nên nói: “Trong cú trình cơ vạch mặt ra.” Trong câu hỏi đã có cơ phong. Triệu Châu không cần thay đổi một mảy tơ, chỉ nói: “Cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc.”
Câu tụng “trần ai chẳng dính mắt ca-la” ca ngợi con mắt Kim Cang của Triệu Châu. “Thước-ca-la nhãn” là tiếng Phạn, nghĩa là con mắt kiên cố, con mắt Kim Cang, có thể nhìn thấu mọi sự vật, phân biệt đúng sai, thấy rõ cơ nghi.
Triệu Châu dùng con mắt ấy nên trong một câu nói đã phá tan mọi suy luận của người hỏi.
Vì vậy Tuyết Đậu mới nói: “Nam bắc đông tây cửa tương đối, biết bao chùy sắt đập chẳng ra.” Cửa Thiền trước mắt tưởng chừng rất rõ ràng, nhưng dù dùng bao nhiêu chùy sắt cũng không thể phá mở nếu còn đứng ngoài mà suy đoán.
Phật học ứng dụng
Công án này chỉ ra một điều căn bản của Thiền: chân lý không thể tìm thấy bằng cách phân tích ngôn từ.
Người học đạo thường cố gắng hiểu Thiền bằng lý luận hoặc khái niệm. Nhưng càng suy đoán thì càng xa rời thực tại.
Triệu Châu chỉ nói “cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc”, tức là chỉ thẳng vào thực tại trước mắt. Con đường giải thoát không nằm ở đâu xa, mà ngay trong đời sống bình thường.
Vấn đề không phải là tìm thêm câu trả lời, mà là buông bỏ thói quen tìm kiếm bằng suy nghĩ.
Khi tâm không còn bị kéo đi bởi lựa chọn và phân biệt, thì cửa Thiền vốn đã mở sẵn từ lâu.
Trung Đạo
Cửa Thiền ở khắp bốn phương, chỉ vì tâm phân biệt nên không thấy đường vào.
Bích Nham Lục – 100 công án Thiền
Vô Môn Quan – 48 công án Thiền
Tùng Dung Lục – 100 công án Thiền
Kinh điển Phật giáo – những câu truyện truyền qua 2.600 năm
Phật học căn bản – hệ thống hóa giáo lý cho người bận rộn
Podcast & sách – giải quyết các vấn đề hiện đại trên nền tảng Phật học
Mệnh lý phương Đông – Phong Thủy & dự trắc đoán mệnh
